LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN THANH HOÁ
KỶ NIỆM 90 NĂM THÀNH LẬP
1932-07/05-2022
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
Cùng với nhiều miền đất trong đất nước, Thanh Hóa đã sớm nhìn thấy bóng dáng các vị tông đồ mang Tin Mừng cứu độ của Đức Giê su đến truyền bá cho nhiều người. Theo Đỗ Tộc Gia Phả tìm thấy tại Bồng Trung, thuộc xứ Kẻ Bền, giáo phận Thanh Hóa, cụ Đỗ Hưng Viễn có thể là người tín hữu đầu tiên của giáo phận này. Cụ đã tòng giáo dưới thời vua Lê Anh Tôn (1556-1573). Nhưng chắc chắn phải đợi đến sau ngày cha Đắc Lộ đặt chân đến Cửa Bạng (19.03.1627) và truyền giáo rộng rãi tại đây, người ta mới chứng kiến những cộng đoàn tín hữu đầu tiên ở Thanh Hóa, trong đó có ông Đỗ Viên Mãn đã được gia phả dòng họ Đỗ ghi lại và hiện con cháu vẫn giữ đạo tại làng Bồng trung, thuộc giáo xứ Kẻ bền, giáo phận Thanh hoá. Nơi đây cũng là quê hương của Thánh Giacobe Đỗ Mai Năm – Linh mục tử đạo.
Nhận thấy số tín hữu trong khắp nước ngày càng đông và rất sốt sắng, ngày 09.09.1659, Đức Thánh Cha Alexandre VII công bố sắc lệnh “Super Cathedram Principis” chia các cộng đoàn tín hữu trong Nam và ngoài Bắc thành hai giáo phận Tông Tòa: Đàng Trong và Đàng Ngoài, lấy sông Gianh làm ranh giới. Thanh Hóa thuộc Địa phận Đàng Ngoài. Địa phận này rất dài và đông dân cư, thoạt đầu chỉ chia thành hai: Đông và Tây Đàng Ngoài, lấy sông Hồng làm ranh giới (1679), rồi dần dần mỗi bên lại chia thêm. Riêng Địa phận Tây Đàng Ngoài đã cắt phần cực Nam thành địa phận Vinh (1846), phần Tây Bắc thành Giáo phận Hưng Hóa (15.04.1895) và cuối cùng, phần Duyên hải phía Nam thành Địa phận Thanh (19/04/1901) bao gồm các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa và Châu Lào. Đến năm 1924, Địa phận Thanh, hay còn gọi là địa phận Bắc Kỳ Duyên Hải (Tonkin Maritime), trở thành Địa phận Phát Diệm khi tất cả các địa phận nhận tên của nơi có tòa giám mục.
Về các giáo xứ tại tỉnh Thanh Hóa thuộc Địa phận Phát Diệm, cho đến ngày 07.05.1932, Tòa Thánh đã lập ra địa phận mới, bao gồm 2 tỉnh: Thanh Hóa ở đất Việt và Sầm Nưa ở đất Lào, trao cho đức cha Louis de Cooman, tức đức cha Lu-y Hành làm đại diện Tông Tòa. Tình hình kéo dài cho đến ngày 24.11.1960, Tòa Thánh thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam và tất cả các địa phận tông tòa Việt Nam được nâng lên thành giáo phận chính tòa. Đức cha Phêrô Phạm Tần trở thành Giám mục Chính tòa tiên khởi của Giáo phận Thanh Hóa. Ngày nay, Giáo phận Thanh Hóa thuộc Giáo tỉnh Hà Nội và năm 2017 đã tổ chức năm thánh kỷ niệm 85 năm thành lập Giáo phận. Năm nay tròn 90 tuổi.
II. ĐỊA LÝ VÀ DÂN SỐ
1. Địa lý
Khi thành lập vào năm 1932, Giáo phận Thanh Hóa bao gồm tỉnh Thanh Hóa và vùng Sầm Nưa bên Lào với tổng diện tích gần 21.000km2. Ngày nay, Giáo phận Thanh Hóa nằm gọn trong tỉnh Thanh Hóa, rộng 11.133,4 km2. Ðông Bắc giáp Ninh Bình (Gp. Phát Diệm); Tây Bắc giáp Sơn La và Hòa Bình (TGP. Hà Nội); phía Tây giáp Lào; phía Nam giáp Nghệ An (GP. Vinh) và phía Ðông giáp biển với bờ biển dài hơn 102 km.
2. Dân số
Khi thành lập vào năm 1932, dân số trên địa bàn Giáo phận vào khoảng 1.500.000 người, trong đó có 44.000 người công giáo bao gồm cả 7.000 người thuộc các dân tộc thiểu số. Lúc ấy nếu không tính 5 xứ thuộc Châu Lào, Giáo phận có 18 giáo xứ, với 16 thừa sai, 48 linh mục Việt Nam, 82 thầy Kẻ Giảng, một ký túc xá của dòng Đức Bà Truyền Giáo, và một tu viện dòng kín Camêlô.
Theo thống kê xã hội, tính đến 01.08.2021, Thanh Hóa có 3.691.079 người, đứng thứ ba trong toàn quốc. Theo sổ Tất Niên 2021, Giáo phận Thanh Hóa hiện có 172 linh mục triều, 4 linh mục dòng, 6 phó tế, 155 chủng sinh và 357 nữ tu Dòng MTG và 33 nữ tu Dòng Thánh Phaolo cùng với 158.890 tín hữu Công giáo, được chia thành 8 giáo hạt với tổng cộng 94 giáo xứ, 1 Giáo họ biệt lập và 4 giáo điểm như bảng liệt kê dưới đây:
. 1/ Giáo hạt Ba Làng (7 giáo xứ): Ba Làng, Hoài Yên, Minh Thanh, Nghi Sơn, Thanh Thủy, Thượng Chiểu và Thuỷ Cơ
2/ Giáo hạt Chính Tòa (15 giáo xứ và 1 giáo họ biệt lập): Chính Tòa, Cổ Định, Đa Minh, Đại Tiền, Đại Thảo, Gia Hà, Hà Nhuận, Hải Lập, Hoành Suối, Phù Bình, Phúc Lãng, Sầm Sơn, Toàn Tân, Thanh Bình, Ngọc Tranh và Hoài chúng (GH biệt lập).
3/ Giáo hạt Hữu Lễ (17 giáo xứ): Hữu Lễ, Bích Phương, Đạt Giáo, Điền Thôn, Kẻ Đầm, Kẻ Láng, Kẻ Vàng, Lam sơn, Mục Sơn, Phúc Địa, Phương Long, Phong Mỹ, Thường Xuân, Ngọc Đông, Thiện Giáo, Thanh Nho Lâm và Ngọc Lạp.
4/ Giáo hạt Kẻ Bền (16 giáo xứ): Kẻ Bền, Bản Thuỷ, Đồng Mực, Ngọc Sơn, Nhân Lộ, Pháp Ngỡ, Quan Nhân, Quần Xá, Đa Lộc, Đắc Lộc, Đồng Phúc, Vân Lung, Tây Trác, Kiên Khánh, Yên Khánh và Khánh Linh
5/ Giáo hạt Ngọc Đỉnh (13 giáo xứ): Ngọc Đỉnh, Đa Nam, Đa Phạn, Thánh Mẫu, Đông Quang, Đông Sơn, Đức Tâm, Kẻ Rừa, Mỹ Điện, Do Hạ, Tiên Thôn, Trinh Hà, và Thiên An.
6/ Giáo hạt Tam Tổng (12 giáo xứ): Tam Tổng, Bạch Câu, Chính Nghĩa, Điền Hộ, Liên Hải, Liên Nghĩa, Mông Ân, Phúc Lạc, Phước Nam, Tân Hải, Vĩnh Thiện, và Tam Linh.
7/ Giáo hạt Thái Yên (9 giáo xứ): Đông Yên, Kiến An, Ngọc Lẫm, Tân Đạo, Tân Sơn, Thái Yên, Vạn Thành, Yên Sơn, Thanh Xuân.
8/ Giáo hạt Phong Ý (5 giáo xứ và 4 giáo điểm): Phong Ý, Bằng Phú, Ngọc Đường, Dương Giao, Bá Thước, Mường Lát, Ngọc Lặc, Quan Hoá và Quan Sơn.
Như vậy, Giáo phận Thanh hoá hiện nay có 99 đơn vị nhiệm sở.
3. Dòng tu
Giáo phận có sự hiện diện của hội dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa, cộng đoàn các nữ tu dòng thánh Phaolô de Chartres, cộng đoàn tu sĩ dòng Phanxico và tu sĩ dòng Tên.
4. Đời sống giáo dân
Đời sống kinh tế của người dân Thanh Hóa nói chung mỗi ngày một phát triển, vì có nhiều nhà máy xí nghiệp được xây dựng tại quê nhà. Hơn nữa, con em đi lao động nước ngoài cũng đã đem lại nguồn kinh tế khá cao, nên nhiều ngôi nhà mới khang trang được hình thành nơi các làng quê. Những năm gần đây, đa số người trẻ đã tìm được việc làm tại quê nhà. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người đi lao động tại các thành phố lớn trong cả nước cũng như ở hải ngoại.
Mặc dầu vậy, đời sống sinh hoạt tôn giáo tại các giáo xứ cơ bản vẫn ổn định, đặc biệt là đồng bào có đạo cũng như không có đạo luôn sống chung trong tình đoàn kết.
III. NHÂN SỰ
1. Đức giám mục đương nhiệm
Đức cha Giuse Nguyễn Đức Cường
2. Các giám mục tiền nhiệm
- Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh (2004 – 2018)
- Đức cha Bartolomêô Nguyễn Sơn Lâm (1994 – 2003)
- Đức cha Phê rô Phạm Tần (1959 – 1990)
- Đức cha Louis de Cooman (1932 – 1954)
3. Linh mục và tu sĩ
Theo thống kê của sổ Tất Niên 2021, Giáo phận Thanh Hóa hiện có 172 linh mục triều, 4 linh mục dòng Tên đang phục vụ tại Giáo phận, 6 phó tế, 155 chủng sinh và 357 nữ tu Dòng MTG và 33 nữ tu Dòng Thánh Phaolo.
IV. CƠ CẤU TỔ CHỨC TRONG GIÁO PHẬN
1. Tổ chức điều hành
- Giám mục Giáo phận: Đức cha Giuse Nguyễn Đức Cường
- Tổng Đại diện : cha Micae Trịnh Ngọc Tứ
- Quản lý: cha Phêrô Vũ Văn Hải
- Chánh Văn phòng kiêm trưởng ấn : cha Thomas Nguyễn Tiến Hạnh
- Đại diện tư pháp : Cha Anton Vũ Đức Tú
2. Ban tư vấn: cha Tổng Đại diện, cha Giám đốc Chủng Viện Thanh hoá và Quý cha hạt trưởng của 8 giáo hạt.
3. Các ủy ban mục vụ: UB. Giáo lý Đức tin; UB. Bác ái xã hội; UB. Phụng vụ; UB. Thánh nhạc; UB. Loan báo Tin mừng; UB. Giáo dân & Gia đình; UB. Giới trẻ; UB. Mục vụ di dân; UB. Truyền thông xã hội; UB. Tu sỹ; UB. Văn hóa – Thể thao; UB. Mục vụ ơn gọi; Tòa án Hôn nhân.
V. CÁC CƠ SỞ CỦA GIÁO PHẬN
1. Nhà thờ Chính Tòa: có khuôn viên rộng rãi phục vụ cho mọi sinh hoạt của Giáo phận vào những dịp đại lễ.
Địa chỉ: 232A Trường Thi, phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa.
2. Tòa Giám mục: Ngoài tư cách là trung tâm hành chính của Giáo phận, Tòa Giám mục cũng là nơi tổ chức nhiều sinh hoạt mục vụ và đào tạo nhân sự trong Giáo phận.
Địa chỉ 50 Nguyễn Trường Tộ, phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa.
3. Chủng viện thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh: nằm trong khuôn viên Tòa Giám mục Thanh Hóa là nơi ươm trồng ơn gọi và huấn luyện ứng sinh. Từ năm 2016, tiểu chủng viện Lê Bảo Tịnh chính thức trở thành Đại Chủng Viện Thanh Hoá.
4. Trung tâm hành hương: Giáo phận Thanh Hóa hiện có 3 trung tâm hành hương. Đó là Đền Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh tại giáo xứ Trinh Hà; Đền Thánh Phaolô Nguyễn Ngân thuộc giáo xứ Khánh Linh; và Đền Thánh Giacôbê Đỗ Mai Năm ở giáo xứ Kẻ Bền.
5. Trụ sở Giáo phận Thanh Hóa tại Sài Gòn: là nơi lưu trú cho Đức cha, Quý cha và Quý ân nhân cùng Quý thân hữu Thanh hoá; nơi đào tạo ơn gọi linh mục – tu sĩ; trung tâm gặp gỡ của Quý đồng hương và mục vụ di dân cho các bạn trẻ xa quê.
Địa chỉ 386/18-22 Lê Văn Sỹ, phường 14, quận 3, TP. Hồ Chí Minh.
6. Các Giáo xứ
Giáo phận Thanh hoá hiện có 94 giáo xứ, 1 giáo họ biệt lập và 4 giáo điểm cùng với 384 giáo họ. Hầu hết các giáo xứ đều có nhà thờ và nhà xứ. Một số xứ đã có nhà giáo lý.
VI. HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ, LOAN BÁO TIN MỪNG, BÁC ÁI XÃ HỘI
1. Loan báo Tin Mừng: Nhân dịp 85 năm thành lập Giáo phận (1932-2017), Giáo phận đã thiết lập UB. Loan Báo Tin Mừng, chọn câu Tin Mừng Lc 5,4: “Hãy ra chỗ nước sâu” làm phương châm cho mọi hoạt động truyền giáo trong Năm Thánh của Giáo phận. Hai giáo hạt Hữu Lễ và Phong Ý là nơi có nhiều anh em dân tộc thiểu số như Mường, H’mông, được đặc biệt ưu tiên để thăm viếng và đẩy mạnh công cuộc loan báo Tin Mừng.
2. Bác ái xã hội: Hoạt động mục vụ bác ái xã hội của Giáo phận chủ yếu thông qua UB. Caritas Thanh Hóa. Hiện nay, Caritas Thanh Hóa tập trung vào các lĩnh vực: giáo dục (cung cấp học bổng), y tế (khám và chữa bệnh và phát thuốc miễn phí, bệnh nhân HIV), cứu trợ (bão lụt, tai nạn, khó nghèo), thăm viếng (bệnh nhân, người già, anh em dân tộc thiểu số, trại phong), phát triển kinh tế (cấp vốn cho hộ nghèo vay), sức khỏe cộng đồng (nguồn nước sạch, bảo vệ sự sống), xây nhà tình thương cho người nghèo và đặc biệt là các hộ sống trên hai giòng sông Chu – sông Mã. Bên cạnh đó, Giáo phận cũng có những nhóm thiện nguyện thường xuyên thăm hỏi bệnh nhân tại các bệnh viện vào sáng thứ Bảy hàng tuần. Từ năm 2016, Giáo phận có thêm một trung tâm nuôi dưỡng trẻ em mồ côi khuyết tật tại giáo xứ Ba Làng.
3. Mục vụ di dân: Nhờ có trụ sở Giáo phận tại Tp. Sài gòn, Giáo phận đã triển khai chương trình dạy giáo lý hôn nhân và dự tòng, giúp đỡ thủ tục hôn phối và thăm viếng mục vụ giáo dân Thanh Hóa đang làm ăn tại miền Nam. Hàng năm, Giáo phận cũng tổ chức ngày hội ngộ di dân để bày tỏ tình hiệp thông và sự liên đới giữa mục tử với đàn chiên đang sinh sống và học tập xa nhà.
VII. GIÁO PHẬN THANH HÓA TRONG DÒNG LỊCH SỬ GIÁO HỘI VIỆT NAM
1. Giai đoạn năm 1659 - 1932
Ngày 9-9-1659, sau hơn một thế kỷ “hạt giống Tin Mừng” được các nhà truyền giáo Dòng Đa Minh, Dòng Tên gieo vãi trên quê hương đất Việt (1533-1659), sự lớn mạnh của Giáo hội Việt Nam được đánh dấu bằng việc Đức Thánh Cha Alexandre VII công bố sắc lệnh “Super Cathedram Principis” thành lập hai giáo phận Tông tòa: Giáo phận Đàng Ngoài (Phía Bắc Sông Gianh) với con số tín hữu khoảng 80.000 người, trao cho Đức tân Giám Mục Francois Pallu coi sóc và giáo phận Đàng Trong (Phía Nam Sông Gianh) với số giáo dân khoảng 20.000 người trao cho Đức tân Giám Mục Pierre Lambert de La Motte cai quản.
Sau 20 năm thành lập (1679), Địa phận Đàng ngoài được chia thành hai giáo phận: Tây Đàng Ngoài trao cho Đức Cha Jacques de Bourges coi sóc và Đông Đàng Ngoài trao cho Đức Cha Francois Deydier coi sóc. Thanh Hóa trực thuộc Địa phận Tây Đàng Ngoài.
Năm 1846 Tòa Thánh chia Địa phận Tây Đàng Ngoài thành hai Địa Phận: Nam Đàng Ngoài, tức địa phận Vinh và Tây Đàng Ngoài. Thanh Hóa nằm trong vùng đất của Địa Phận Tây Đàng Ngoài.
Ngày 2-4-1901. Đức Thánh Cha Leo XIII ban sắc lệnh thiết lập Địa Phận Thanh cũng được gọi là Địa Phận Bắc Kỳ Duyên Hải (Tonkin Maritime), gồm tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Ninh Bình – Phát Diệm và huyện Lạc Thủy của tỉnh Phước Lâm (Hòa Bình ngày nay). Vị Giám Mục tiên khởi là Đức Cha Alexandre Marcou Thành, với 24 Thừa Sai, 48 Linh Mục Việt Nam, 18 Đại Chủng Sinh, 112 Thầy Giảng, 145 Tiểu Chủng Sinh, 3 nhà Dòng Mến Thánh Giá và 80.000 Giáo dân trong 27 giáo xứ : 15 tại Ninh Bình, 7 tại Thanh Hóa và 5 tại Châu Lào.
Ngày 8-02-1902: Đức Cha Marcou Thành chính thức nhận giáo phận Thanh, đặt Toà Giám Mục tại Phát Diệm.
2. Giai đoạn từ năm 1932 đến nay
Ngày 26-4-1932: Nghị định của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin về việc tách riêng Phát Diệm và Giáo phận Thanh Hóa được sự chấp thuận của Đức Thánh Cha Pio XI.
Ngày 7-5-1932 Sắc chỉ thành lập Giáo phận Thanh Hóa được ban hành. Theo Sắc chỉ thiết lập, Giáo phận Thanh Hóa gồm 2 tỉnh: Thanh Hóa ở đất Việt và Sầm Nưa ở đất Lào với diện tích khoảng 21.000km2, dân số khoảng 1.500.000 người, trong đó có 44.000 người công giáo bao gồm cả 7.000 người thuộc các dân tộc thiểu số. Lúc ấy nếu không tính 5 xứ thuộc Châu Lào, giáo phận chỉ có 18 giáo xứ, với 16 Thừa Sai, 48 Linh mục Việt Nam, 82 Thầy Kẻ Giảng, một ký túc xá của Dòng Đức Bà Truyền Giáo, một Tu viện Dòng Kín Camêlô.
Ngày 21-6-1932, Tòa Thánh bổ nhiệm Đức Cha Louis de Cooman Hành, Giám mục phó Phát Diệm về làm Giám Mục Thanh hóa. Ngay từ những ngày đầu về nhận Giáo phận, Đức Cha Louis de Cooman Hành đã bắt tay vào việc xây dựng giáo phận mới trong hoàn cảnh khó khăn về kinh tế (khủng hoảng kinh tế thế giới) và Chính trị (Chiến tranh thế giới thứ II). Trong kiên trì và thinh lặng, Người đã đào tạo được một hàng ngũ giáo sĩ đông đảo, đức độ, có khả năng và nhiệt huyết. Ngài xây dựng Tòa Giám Mục, Nhà Chung, Trường Thử, Tiểu Chủng Viện, trường các Thầy Kẻ Giảng. Dòng Mến Thánh giá được Người chăm sóc cách đặc biệt. Hầu hết các giáo xứ đều có đời sống tương đối ổn định và đạo hạnh. Những thành quả ấy đã trở thành nền tảng giúp mọi người kiên định niềm tin trước mọi thách đố của thời cuộc.
Sau hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, tình hình chính trị Việt Nam thay đổi, ngày 24 – 3 – 1954, Đức Cha Louis de Cooman Hành phải từ giã giáo phận về Pháp, ngài qua đời năm 1970 tại Lavais, Avignon, Pháp. Nhiều linh mục và tu sĩ đã đi vào Miền Nam với chừng 18.500 giáo dân. Số còn ở lại Thanh hóa: 27 Linh mục, 15 đại Chủng sinh, 70 tiểu Chủng sinh, 50 nữ tu dòng Mến Thánh Giá và khoảng 47.000 giáo dân. Cha Phêrô Phạm Tần được đặt làm Tổng quản Địa phận.
Ngày 17-3-1959, Tòa Thánh đặt cha Phêrô Phạm Tần làm Giám mục, hiệu Tòa Giustiniapoli, Đại Diện Tông Tòa coi sóc Giáo phận Thanh Hóa.
Ngày 24-11-1960, Tòa Thánh thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam và chia Giáo hội Việt Nam thành 3 giáo tỉnh: Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Đây là một trong những thời điểm quan trọng nhất để khẳng định sự lớn mạnh và trưởng thành của Giáo Hội Việt Nam:
Cũng trong ngày 24-11-1960, Đức Cha Phêrô Phạm Tần được chính thức đặt làm Giám Mục Chính Tòa Địa phận. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử, mãi đến ngày 22-6-1975, tức là sau hơn 15 năm, Ngài mới được tấn phong Giám Mục. Ý chí dũng cảm sẵn sàng xả thân của Ngài đã làm cho Giáo phận kiên vững trong giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử. Ngày 1-2-1990 Người được Chúa gọi về và được an táng trong cung thánh Nhà thờ Chính toà Thanh Hóa. Thời Đức Cha Tần có cha Chính Diệm (1957-1979) và cha Chính Antôn Trần Lộc (1980-1990).
Tòa Thánh đặt Đức Hồng Y Giuse MariaTrịnh Văn Căn - Tổng giám mục giáo phận Hà nội, làm Giám quản Thanh hóa. Nhưng chưa được mấy tháng, người đã đột ngột qua đời ngày 18-5-1990.
Cha Antôn Trần Lộc được đặt thay thế. Trong 4 năm trời và mặc dù bệnh tật, Người đã hết mình phục vụ Giáo phận, cho đến khi Đức Cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm được Tòa Thánh bổ nhiệm từ Đà Lạt về Thanh Hóa. Cha Antôn Trần Lộc đã qua đời ngày 16-8-1995 và an táng tại đất thánh Chúa Kitô Vua trong khuôn viên Tòa Giám Mục.
Đức Cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm : Được Toà Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục Giáo phận Thanh Hóa ngày 23 tháng 03 năm 1994. Nhận Giáo Phận Thanh Hóa ngày 24 tháng 06 năm 1994. Được Chúa gọi về lúc 0 giờ 15 phút, ngày 09 tháng 06 năm 2003. Hưởng thọ 74 tuổi ; 18 năm linh mục, 28 năm Giám mục (19 năm làm Giám mục Đà Lạt, 9 năm Giám mục Thanh Hoá). Trong thời gian giữ cương vị chủ chăn tại Thanh Hóa, Ngài đã có tinh thần hy sinh, yêu mến Giáo phận một cách đặc biệt : Ngài lo xây dựng cơ sở vật chất từ Tòa giám mục, nhà Dòng Mến Thánh Giá cho đến nhà thờ các giáo xứ và các giáo họ; lo xây dựng đời sống tinh thần, đời sống đạo đức và đời sống vật chất cho giáo dân trong Giáo phận. Mặc dù vào những năm cuối đời, tuổi già sức yếu, bệnh tật hoành hành, nhưng ngài vẫn lo chu toàn bổn phận của một vị mục tử nhân hiền. Thi hài của ngài được an táng tại Nhà Thờ Chính Tòa Thanh Hóa, ngày 13 tháng 06 năm 2003.
Đức Ông Gioan Baotixita Lưu Văn Khuất : Sau khi Đức cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm qua đời, Tòa thánh đã bổ nhiệm Đức ông Gioan Baotixita Lưu Văn Khuất làm Giám quản Giáo phận Thanh Hóa. Mặc dù tuổi cao sức yếu, nhưng Đức ông đã làm việc hết mình cho Giáo phận. Đến ngày 27-10-2003, Đức ông đã được Chúa gọi về, hưởng thọ 82 tuổi và an táng tại đất thánh Chúa Kitô Vua trong khuôn viên Tòa Giám Mục.
Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt : Sau sự ra đi của Đức ông Giám quản Giáo phận J.B Lưu Văn Khuất. Ngày 28-10-2003, Toà Thánh đã đặt Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Giám mục Giáo phận Lạng Sơn, Giám quản Giáo phận Hà Nội, làm Giám quản Giáo phận Thanh Hóa. Mặc dù bận rất nhiều công việc, đường xá xa xôi, nhưng Đức Cha đã hy sinh tất cả để về tham dự tĩnh tâm hàng tháng với linh mục đoàn Giáo phận. Ngài làm Giám quản cho đến khi Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh về nhận Giáo phận ngày 04-08-2004.
Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh : Vị Giám mục thứ tư của Giáo phận là một người con xứ Ba Làng - Cửa Bạng lịch sử, được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục Chính Tòa Thanh Hóa ngày 12-06-2004. Ngài đã chọn khẩu hiệu “Xin Cho Họ Nên Một” để dẫn dắt giáo phận quê nhà bước vào ngưỡng cửa của thiên niên kỷ thứ ba. Sau 12 năm làm giám mục Thanh hoá, Đức cha Giuse Nguyễn chí Linh được Toà thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục TGP Huế và kiêm giám quản giáo phận Thanh hoá.
Ngày 25-04-2018, Toà thánh đã bổ nhiệm Cha Giuse Nguyễn Đức Cường thuộc giáo phận Đà lạt về làm giám mục chính toà Giáo phận Thanh hoá. Ngày 27-06-2018, Đức cha Giuse Nguyễn Đức Cường chính thức được tấn phong giám mục và khai mạc triều đại của vị giám mục thứ 5 cai quản giáo phận Thanh hoá với khẩu hiệu “ Hãy ra chỗ nước sâu”. Sau 90 năm hình thành và phát triển, Giáo phận Thanh hoá trở thành một trong những giáo phận hàng đầu của Giáo hội tại Việt nam trên mọi phương diện.

Thánh Lễ
LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN THANH HOÁ
Trụ Sở Thanh Hóa07 tháng 5, 2022
Bài viết liên quan

Khai Mạc Giải Bóng Đá Đồng Hương Giáo Phận Thanh Hóa Tại Miền Nam 2026 — Cúp Nam Bắc Lần II: 8 Giáo Hạt Tranh Tài Tại Sài Gòn
Đọc tiếp
Kênh youtube Chú Giúp lễ ghi lại Bà Nguyễn Phương Hằng xin lỗi vì sự việc liên hệ tới Bí Tích Hoà Giải của Giáo Hội Công Giáo.
Đọc tiếp
